Shinano – Thủy quái yểu mệnh

Được chế tạo ban đầu như tàu thứ ba của lớp Yamato, sau thất bại Midway, Shinano được cải biên lại thành một tàu sân bay. Hạ thủy ngày 5/10 và đi vào hoạt động ngày 19/11/1944, nó là tàu sân bay lớn nhất thời đó do sở hữu kích thước khủng bố của lớp Yamato, lớp thiết giáp hạm lớn nhất thế giới. Công việc hoán cải cơ bản hoàn thành năm 1944 và con tàu được lệnh đến Kure để hoàn tất những gì còn lại. 28/11, Shinano nhổ neo đi Kure dưới quyền thuyền trưởng Toshio Abe. Thuyền trưởng Abe xung đột với các thuyền trưởng tàu khu trục, những người vừa trở về từ Hải chiến vịnh Leyte. Trong khi Abe cho rằng di chuyển buổi sáng sẽ rất nguy hiểm vì không có yểm trợ không lực và Shinano chưa thực sự hoàn thành, các thuyền trưởng khu trục lại lấy lý do thủy thủ đoàn mệt mỏi và cần đi nhanh để sửa chữa khẩn cấp.

Sự quan trọng của Shinano được đề cao tới mức Bộ Chỉ huy Nhật sẽ phong cho Abe thành Chuẩn Đô đốc sau chuyến đi, và con tàu được kỳ vọng sẽ xoay chuyển cục diện trận chiến. Chính điều này góp phần lớn dẫn tới sự thận trọng của Abe. Tất cả thủy thủ đoàn ngoại trừ khoảng 700 người chưa từng trải qua chiến đấu thực tế, và chưa được huấn luyện đầy đủ các kỹ thuật kiểm soát hư hỏng. Thêm nữa, bốn trong tổng số 12 nồi hơi của nó không thể hoạt động vì không có linh kiện phụ tùng. Abe thực ra đã đề nghị hoãn thời hạn của chuyến đi vì những lý do trên, nhưng đều bị đa số trong bộ chỉ huy bác bỏ, hầu hết đều do mối lo ngại sẽ có các cuộc ném bom Mỹ sắp đến lên các đảo chính quốc Nhật Bản. Ngay khi chỉ có tám nồi hơi hoạt động, Abe vẫn có thể đưa Shinano đạt đến tốc độ 20 knot (36 km/h), nhanh hơn các tàu ngầm Mỹ vẫn thường lãng vãng ngoài khơi vùng biển phía năm đảo Honshuu.

Tàu sân bay Shinano trong quá trình chạy thử tại vịnh Tokyo

Tuy nhiên cái gì tới cũng phải tới. Shinano chỉ đi ra biển được vài giờ khi nó bị chiếc USS Archerfish, một tàu ngầm thuộc lớp Balao dưới sự chỉ huy của Thuyền trưởng Joseph F. Enright, phát hiện. Cho dù Abe có thể sử dụng hoả lực vượt trội hơn rất nhiều, ông nghĩ rằng Archerfish là soái hạm của một tốp tàu ngầm. Theo cách nhìn của Abe, Archerfish là một con mồi nhử ra xa một hoặc nhiều chiếc tàu khu trục đang bảo vệ, mở rộng đường cho số còn lại trong tốp nhắm vào Shinano. Trong thực tế, ông đã ra lệnh cho một trong những tàu khu trục hộ tống quay lại khi ông thấy nó đang đuổi theo Archerfish, và do đó mất đi cơ hội tốt nhất để đánh chìm nó. Mọi hành động của Abe đều mang bản chất thận trọng và tự vệ, vì mục đích chính của ông là đưa chiếc Shinano đến Kure an toàn. Tâm trạng của Abe càng trở nên phòng thủ sau khi ông được biết vòng bi của một trong các trục chính bị quá nóng khiến phải giảm tốc độ tối đa xuống còn 18 knot (33 km/h), một tốc độ gần bằng đa số các tàu ngầm Mỹ.

Tranh vẽ tàu ngầm USS Archerfish đánh chìm tàu sân bay IJN Shinano

Trong sự hấp tấp tìm cách tránh tốp tàu ngầm giả định, sự di chuyển ngoằn ngoèo đã khiến cho Shinano lọt vào đúng hướng ngắm của chiếc Archerfish vài giờ sau đó. Lúc 03 giờ 17 phút, Archerfish bắn ra sáu quả ngư lôi. Bốn quả chạy nông gần mặt nước đã đánh trúng chiếc Shinano khoảng giữa đai giáp chống ngư lôi và mực nước. Cho dù thoạt tiên con tàu vẫn tiếp tục di chuyển theo hành trình, nó bị mất động năng vào khoảng 06 giờ 00. Thủy thủ đoàn đã không thể ngăn chặn được sự ngập nước trong các khoang tàu, và Shinano chìm vào lúc 11 giờ 00. Có khoảng 1.400 trong tổng số 2.500 thủy thủ đoàn thiệt mạng. Trong số người tử trận có cả thuyền trưởng Abe và cả hai viên hoa tiêu của ông, cùng chìm xuống đáy biển theo con tàu. Tin thú vị: Tình báo Hải quân Mỹ chưa từng biết đến sự hiện hữu của chiếc Shinano khi nó rời cảng, nhưng đã từng dự đoán rằng có một chiếc thiết giáp hạm thứ ba thuộc lớp Yamato. Archerfish ban đầu được ghi công đã đánh chìm được một tàu sân bay tải trọng 28.000 tấn. Mãi đến sau khi chiến tranh kết thúc, người Mỹ mới khám phá ra rằng Archerfish đã hạ được một con “thủy quái” 72.000 tấn.

Thêm bình luận của bạn